Thông tin chi tiết

Alt text for image
"Dưới bóng mát của rừng tràm", ảnh được giải nhì của tác giả Huỳnh Kim Hải chụp tại Vườn Quốc gia U Minh.

Các hoạt động tư vấn chính sách và hỗ trợ kỹ thuật của UNDP cho các cơ quan trung ương và  địa phương tập trung vào năm chủ đề chính: biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh, hiệu suất sử dụng năng lượng, REDD+, bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý môi trường cũng như giảm nhẹ rủi ro thiên tai.

Trong lĩnh vực biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh, UNDP đã có công đóng góp trong việc xây dựng và thực thi các chính sách và chương trình quốc gia chính về phát triển bền vững, như Chiến lược về Biến đổi khí hậu (2011), Chương trình Mục tiêu Quốc gia Ứng phó với biến đổi khí hậu và Nghị quyết của Trung ương về Biến đổi khí hậu, Tài nguyên thiên nhiên và Bảo vệ môi trường (2013). UNDP còn hỗ trợ xây dựng các kịch bản về biến đổi khí hậu cho Việt Nam (2011).

UNDP tích cực tuyên truyền vận động và hỗ trợ kỹ thuật cho sự tham gia của Việt Nam tại Hội nghị Rio+20 và xây dựng Chiến lược Tăng trưởng xanh cho Việt Nam (2012), trong đó đưa ra  chỉ tiêu giảm cường độ phát thải khí nhà kính 8-10% so với mức của năm 2010 vào năm 2020 và giảm mức độ tiêu thụ năng lượng theo đơn vị GDP 1-1,5% mỗi năm.

Phục vụ cho mục đích phát triển và tăng trưởng xanh, UNDP đang phối hợp với khu vực tư nhân, người lao động và các cộng đồng hỗ trợ xây dựng các Biện pháp Giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện của quốc gia (NAMA). NAMA sẽ được thực hiện thí điểm ở nhiều ngành công nghiệp cho đến năm 2016.

Trong lĩnh vực hiệu suất sử dụng năng lượng, UNDP đi đầu trong việc tăng cường năng lực, xây dựng các chính sách mới và chuyển đổi thị trường nhằm tạo động lực nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng và phát triển các loại năng lượng sạch. UNDP đã góp phần xây dựng khung nhãn mác và tiêu chuẩn năng lượng ở Việt Nam nhằm đề ra các định mức về năng lượng cho các công cụ và giảm mức sử dụng năng lượng ở cấp hộ gia đình, đồng thời hỗ trợ  chuyển giao công nghệ nhằm khuyến khích các công nghệ và các cơ sở cung cấp dịch vụ sử dụng năng lượng với hiệu suất cao.

REDD+ được coi là một sáng kiến thú vị nhằm giảm mức độ phát thải khí Các-bon do mất rừng và suy thoái rừng. UNDP đã và đang thực hiện giai đoạn 1 Chương trình UN-REDD Việt Nam cùng với FAO và UNEP từ năm 2009 đến nay với kết quả là đã đưa ra Chương trình Hành động REDD+ Quốc gia. UN-REDD giúp Chính phủ, các cộng đồng địa phương, khu vực tư nhân và xã hội dân sự lập kế hoạch quản lý rừng bền vững và chia sẻ lợi ích từ rừng, coi đây là một yếu tố căn bản để giảm nhẹ biến đổi khí hậu. Điều này dẫn đến kết quả là giai đoạn 2 Chương trình UN-REDD Việt Nam với kinh phí 30 triệu USD đã được phê duyệt và bắt đầu triển khai thực hiện vào giữa năm 2013 tại sáu tỉnh thí điểm cho đến năm 2015 để thử nghiệm tác dụng của các biện pháp khuyến khích trong việc tăng trữ lượng Các-bon rừng.

Để bảo vệ hệ đa dạng sinh học phong phú có ý nghĩa toàn cầu song đang bị đe dọa của Việt Nam, UNDP đã thực hiện vai trò chủ chốt trong việc xây dựng Luật Đa dạng sinh học (2008) và hiện đang góp phần tăng cường năng lực thể chế nhằm phá vỡ những rào cản về chính sách và thể chế đối với việc quản lý hiệu quả các khu bảo tồn và việc cung cấp nguồn tài chính bền vững. Hiện đang tiến hành nghiên cứu các mô hình quản lý và nguồn thu tại ba khu rừng quốc gia cũng như sửa đổi Chiến lược và Kế hoạch Hành động Quốc gia về Đa dạng sinh học.

UNDP đang phối hợp chặt chẽ với Quốc hội để hỗ trợ sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường nhằm bổ sung một số nội dung mới như biến đổi khí hậu và trách nhiệm của các bên liên quan, và điều này đang làm tăng thêm động lực bảo vệ môi trường.  

Việt Nam đã phải hứng chịu mức độ ô nhiễm cao hơn do các chiến lược và kế hoạch hành động về quản lý hóa chất còn hạn chế, và điều này càng trở nên tồi tệ hơn khi tốc độ công nghiệp hóa gia tăng và nhận thức của các ngành công nghiệp về quy trình phòng ngừa rủi ro và đảm bảo an toàn còn kém. UNDP Việt Nam hiện đang phối hợp với Chính phủ cung cấp ý kiến tư vấn kỹ thuật để xây dựng một cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc thực hiện hợp phần thứ hai của Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Quản lý ô nhiễm và Cải thiện môi trường (NTP-PMEI) tập trung giải quyết hơn 200 điểm nóng về chất thải gây ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP) tại Việt Nam. Đồng thời, UNDP cũng đang hỗ trợ nâng cao năng lực cho Chính phủ để tăng cường xử lý các chất thải POP cũng như khỏa lấp những khoảng trống về năng lực thể chế để xây dựng các kế hoạch quản lý hóa chất trong khuôn khổ của Công ước Stockholm.

Là một nước có nhiều hiểm họa thiên nhiên như lũ lụt và bão nhiệt đới, Việt Nam đang nâng cao năng lực quản lý rủi ro thiên tai nhằm giảm nhẹ thiệt hại về người và của do thiên tai gây ra.

UNDP là một trong những tổ chức quốc tế đầu tiên xác định nhu cầu này vào đầu thập kỷ 90, và số người chết do thiên tai đã giảm 8% trong giai đoạn 2008-2012 so với 5 năm trước đó. Tuy nhiên, vẫn còn một tỷ lệ rất lớn dân chúng vẫn có nguy cơ phải đối mặt với hiểm họa thiên nhiên. Để giải quyết thách thức này, UNDP đã xây dựng mối quan hệ đối tác chặt chẽ với Chính phủ để tăng cường năng lực thể chế về quản lý rủi ro thiên tai và xây dựng các chính sách làm thay đổi tình hình. Hoạt động chính của UNDP là hỗ trợ Quốc hội ban hành Luật Quản lý rủi ro thiên tai (2013) trong đó có bao hàm nội dung của Khung Hành động Hyogo và Hiệp định ASEAN về Quản lý thiên tai và Ứng phó với tình huống khẩn cấp.

Ấn phẩm
Hãy ghi nhận sức mạnh của phụ nữ và trẻ em gái trong giảm nhẹ rủi ro!

Cuốn sách này nhấn mạnh tiềm năng và sức mạnh của một nguồn lực bấy lâu nay vẫn không được khai thác hoặc thừa nhận: những người phụ nữ dũng cảm và mạnh mẽ trên thế giới, trong gia đình và cộng đồng của chúng ta.

Các chính sách tài khoá về nhiên liệu hoá thạch và phát thải khí nhà kính ở Việt Nam

Trợ giá và thuế trong ngành năng lượng của Việt Nam và những ảnh hưởng đến phát triển kinh tết và phân phối thu nhập trong bối cảnh ứng phó với biến đổi khí hậu

Việt Nam: Một số điển hình phát triển bền vững

Mục đích của Báo cáo này là tổng hợp và đánh giá một số điển hình PTBV được thực hiện ở Việt Nam thời gian qua, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm và khuyến nghị để tiếp tục thực hiện các mô hình, sáng kiến điển hình, góp phần thúc đẩy tiến trình PTBV ở Việt Nam.

Xem thêm các ấn phẩm khác