• 10.7%

    Tỷ lệ nghèo

  • 9.21%

    Tỷ lệ lạm phát

  • 24.4%

    Tỷ lệ đại diện phụ nữ trong Quốc Hội

  • 54

    Dân tộc thiếu số

Vài nét về Việt Nam

Giới thiệu

Ho Tay
© United Nations Viet Nam\2010\Aidan Dockery

Việt Nam, sau hai thập kỷ tăng trưởng kinh tế nhanh, giờ đây được coi là một câu chuyện thành công về phát triển. Công cuộc đổi mới về chính trị và kinh tế (công cuộc Đổi mới) được khởi xướng vào năm 1986 đã đưa Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất trên thế giới trở thành nước có mức thu nhập trung bình chỉ trong vòng một phần tư thế kỷ. Sự tăng trưởng ngoạn mục đó, kèm theo kết quả thu nhập bình quân đầu người tăng từ mức dưới 100 USD lên khoảng 1.596 USD vào năm 2012, đã diễn ra đồng thời với tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ 58% xuống 14% trong giai đoạn 1993 - 2008 và ước tính còn khoảng 11,8% vào năm 2011. Mặc dù Việt Nam đã hoàn thành một số Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ trước thời hạn 2015 và cải thiện hầu hết chỉ số phát triển, song có những thách thức mới đang nảy sinh khi Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới.

Lịch sử


Với số dân 88,5 triệu người thuộc 54 dân tộc khác nhau, Việt Nam là một đất nước đa dạng có nền văn hóa phong phú, giàu bản sắc đã trải qua những thay đổi lớn lao trong thế kỷ qua.

Thoát khỏi thời kỳ đô hộ của thực dân và hàng thập kỷ đấu tranh, Việt Nam đã được thống nhất vào năm 1975 sau cuộc chiến tranh chống Mỹ hao người tốn của, và cuộc cách mạng về kinh tế (công cuộc Đổi Mới) trong thập kỷ 80 đã biến Việt Nam, một trong những nước nghèo nhất thế giới, thành một trong những nền kinh tế năng động nhất và tăng trưởng nhanh nhất ở khu vực Đông Nam Á với kỳ vọng trở thành nước phát triển vào năm 2020.

Nhờ có sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế “thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” vào năm 1986, Việt Nam đã nổi lên như một con hổ Châu Á đầy ham vọng, và từ đó thu hút được các dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo cơ sở cho sự xuất hiện của khu vực tư nhân cũng như cơ hội để áp dụng cách tiếp cận mang tính toàn cầu hóa cao hơn trong các hoạt động kinh doanh và thương mại kể từ sau khi Việt Nam  gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2007, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế.

Chủ trương đổi mới đó đã mang lại một thời kỳ thay đổi ngoạn mục về mặt xã hội, đồng thời nâng cao mức sống và giảm tỷ lệ nghèo.

Những diễn biến đó cùng với những diễn biến mới như các đợt bất ổn nghiêm trọng về kinh tế vĩ mô từ năm 2008 cũng đặt ra những thách thức lớn về chính sách cho Nhà nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của một Đảng duy nhất - Đảng Cộng sản Việt Nam - khi Việt Nam phấn đấu củng cố và hướng tới một thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội bền vững tiếp theo.

Thách thức


Bên cạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và những sự thay đổi to lớn về xã hội như vậy, cũng đã nảy sinh những nỗi quan ngại ngày càng tăng khiến Việt Nam giờ đây đang phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn. Nếu không được kiểm soát, những thách thức và chênh lệch ngày càng gia tăng này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình phát triển bền vững của Việt Nam.

Tỷ lệ nghèo đã giảm rất ngoạn mục, song không phải trong các nhóm dân tộc thiểu số hay dân cư nông thôn và thêm nhiều người có nguy cơ bị tái nghèo. Những nỗ lực xóa đói giảm nghèo tiếp theo sẽ gặp khó khăn do tình trạng bất ổn về kinh tế vĩ mô trong nước vẫn tồn tại và cần phải triển khai một mô hình tăng trưởng kinh tế mới, ngoài ra còn vì cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vẫn đang tiếp diễn dẫn đến mức kinh phí tài trợ bị cắt giảm.     
 
Kết quả phát triển con người của Việt Nam gần đây đã bị chững lại, cụ thể là vị trí xếp hạng về Chỉ số Phát triển con người của Việt Nam từ 120 vào năm 1995 tăng lên 108 vào năm 2005 để rồi lại tụt xuống 127 vào năm 2012, do tác động của rất nhiều yếu tố khác như biến đổi khí hậu, môi trường xuống cấp, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, tham nhũng, những sự chênh lệch gia tăng trong xã hội và quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đòi hỏi phải có những đối sách khẩn cấp.

Tuy Việt Nam đã hoàn thành hầu hết các MDG trước thời hạn 2015, song vẫn cần nỗ lực hơn nữa để đạt được MDG 6 về HIV/AIDS và MDG 7 về môi trường bền vững.

Để mở cánh cửa vào một xã hội công bằng và thịnh vượng hơn cần phải điều tiết tốt tăng trưởng kinh tế trên cơ sở đảm bảo bền vững về môi trường, cải thiện công tác quản trị quốc gia cũng như phân phối đều hơn của cải và các dịch vụ trong toàn xã hội.

Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 yêu cầu phải có “những sự đột phá” về cải cách cơ cấu, tính bền vững về môi trường, công bằng xã hội và sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô để cho phép Việt Nam đặt nền móng xây dựng một xã hội công nghiệp hóa và hiện đại vào năm 2020.

Thành công


Việt Nam đã được thế giới ghi nhận về những thành công trong công cuộc phát triển và xóa đói giảm nghèo nhờ có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong hai thập kỷ qua.

Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất trên thế giới đã trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất và được ghi nhận là nước có mức thu nhập trung bình thấp vào năm 2010.

Kết quả tăng trưởng đó, có được nhờ các biện pháp cải cách kinh tế mạnh mẽ và quá trình hội nhập quốc tế thông qua Tổ chức Thương mại Thế giới, đã góp phần giảm tỷ lệ nghèo từ 58% xuống 14% trong giai đoạn 1993 - 2008 và ước tính còn khoảng 11,8% vào năm 2011.

Đi đôi với việc nâng cao mức sống của người dân, Việt Nam đã liên tục cải thiện nhiều chỉ số phát triển cũng như tăng cường khả năng tiếp cận với các dịch vụ giáo dục, y tế và mạng lưới an sinh xã hội cho nhiều thành phần rộng rãi hơn trong xã hội.

Thế giới ca ngợi Việt Nam đã tiến hành các bước nhằm xây dựng một xã hội công bằng hơn phục vụ lợi ích của cả những đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong xã hội như người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, phụ nữ và người khuyết tật.

UNDP đã giúp Việt Nam đạt được thành công trên một số lĩnh vực mang tính đột phá trong ba thập kỷ qua, mà gần đây nhất là hoàn thành phần lớn các MDG trước thời hạn 2015, đặc biệt MDG 1 về xóa đói giảm nghèo.

Hướng tới tương lai, Việt Nam hiện đang điều chỉnh mô hình tăng trưởng kinh tế để tiến tới thời kỳ tăng trưởng và phát triển bền vững tiếp theo.

Country flag
Country map
Thống kê
Thủ đô
Hà Nội
Dân số
87,84 triệu người
Diện tích (km2)
330.957,6
Ngôn ngữ
Tiếng Việt
Tỷ lệ lạm phát
9,21 (năm 2012)
Tỷ lệ nghèo
10,7% (năm 2010)
Mức thu nhập bình quân đầu người
1.407 USD (năm 2011)
Chỉ số Phát triển con người
0,617 (2011)

Sources: Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Thế giới, Báo cáo Phát triển con người của UNDP.